TIN HOẠT ĐỘNG NGÀNH
Tổng quan thị trường và giá cả tháng 8 năm 2018

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 8 năm nay tăng 0,45% so với tháng trước, tăng 3,98% so với cùng kỳ năm trước; tăng 2,59% so với tháng 12 năm trước; CPI bình quân tám tháng đầu năm 2018 so với cùng kỳ năm trước tăng 3,52%...

        I. TỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG VÀ GIÁ CẢ THÁNG 8 NĂM 2018

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 8 năm nay tăng  0,45% so với tháng trước, tăng 3,98% so với cùng kỳ năm trước; tăng 2,59% so với tháng 12 năm trước; CPI bình quân tám tháng đầu năm 2018 so với cùng kỳ năm trước tăng 3,52%.

So với tháng trước, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 10 nhóm hàng tăng: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,87%; Giáo dục tăng 0,46%; Nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,44%; Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,19%; Giao thông tăng 0,13%; Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,13%; Đồ uống và thuốc lá tăng 0,11%; May mặc, mũ nón và giầy dép tăng 0,1%; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,1%; Thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,02%. Riêng nhóm hàng bưu chính viễn thông giảm 0,07%.

1. Các nguyên nhân làm tăng CPI tháng 8 năm 2018

(1). Chỉ số giá nhóm thực phẩm tiếp tục tăng cao do giá thịt lợn tăng với mức khá cao, bình quân giá thịt lợn tăng 3,41% so với tháng trước, theo đó giá các loại thực phẩm chế biến từ thịt cũng tăng theo. Bên cạnh đó, do ảnh hưởng của mưa bão và lũ quét làm cho giá rau xanh tăng 2,87% so với tháng trước. Chỉ số giá nhóm thực phẩm tăng 1,12% góp phần tăng chỉ số CPI khoảng 0,25%.

(2). Từ ngày 1/8/2018 giá gas trong nước điều chỉnh tăng 11.000đ/bình 12 kg tăng 2,8% so với tháng 7/2018, do giá gas thế giới bình quân tháng 8/2018 công bố ở mức 587,5 USD/tấn, tăng 25 USD/tấn so với tháng trước.

(3). Chỉ số giá nhóm vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 0,42%, chủ yếu tăng ở mặt hàng sắt thép do giá phôi thép tăng cao.

(4). Một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện tăng học phí theo lộ trình của Nghị định số 86/2015/NĐ-CP ngày 02/10/2015 của Chính phủ.

(5). Tỷ giá VND/USD tăng đã ảnh hưởng đến giá một số mặt hàng nhập khẩu như xăng dầu, gas, ô tô, xe máy, rượu, thuốc lá, tua du lịch ngoài nước,...

2. Các nguyên nhân làm giảm CPI tháng 8 năm 2018

Bên cạnh các nguyên nhân làm tăng CPI, còn có một số nguyên nhân giảm CPI tháng 8/2018 như sau:

 (1). Giá nhiều mặt hàng điện tử, điện lạnh giảm do nhiều siêu thị, trung tâm thương mại đưa ra chương trình khuyến mại, giảm giá vào tháng 7 âm lịch.

        (2). Giá vé tàu hỏa giảm 3,31% do Tổng công ty Đường sắt Việt Nam áp dụng chương trình giảm giá vé khi sắp qua mùa cao điểm của du lịch hè.

II. DIỄN BIẾN GIÁ TIÊU DÙNG THÁNG 8 NĂM 2018 CỦA MỘT SỐ NHÓM HÀNG CHÍNH

1. Hàng ăn và dịch vụ ăn uống (+0,87%)

1.1 Lương thực (+0,1%)

Giá gạo tăng nhẹ 0,05% so với tháng trước chủ yếu ở nhóm hàng gạo nếp do nhu cầu tiêu dùng trong tháng lễ tết Vu Lan tăng. Ngoài ra, ảnh hưởng của mưa lũ nên giá gạo tăng cục bộ ở một số địa phương bị ảnh hưởng của mưa lũ.

Tại miền Bắc giá gạo tẻ thường ở mức 12.500đ/kg - 13.500đ/kg, tại miền Nam gạo tẻ thường IR50404 giá phổ biến ở mức 11.500đ/kg  - 11.900đ/kg; gạo tẻ thường IR74 giá 10.000đ/kg - 10.500đ/kg, gạo tẻ ngon Nàng thơm chợ Đào giá 17.000đ/kg - 19.000đ/kg, giá gạo nếp dao động từ 25.000đ/kg - 30.000đ/kg.

1.2 Thực phẩm (+1,12%)

(1). Chỉ số giá nhóm thực phẩm tăng ở một số mặt hàng

- Giá thịt lợn tăng 3,41% do nguồn cung hạn chế cùng với mưa bão nên một số tỉnh có mức tăng khá cao như: Nam Định tăng 7,07%, Thái Nguyên tăng 6,55%, Hòa Bình tăng 8,87%, Lạng Sơn tăng 7,65%... Bình quân giá thịt mông sấn hiện từ 90.000đ/kg - 105.000đ/kg; nạc thăn từ 95.000đ/kg - 107.000đ/kg; sườn lợn từ 90.000đ/kg - 115.000đ/kg. Đây là mặt hàng đóng góp nhiều nhất vào mức tăng của nhóm thực phẩm;

- Theo đó, giá các sản phẩm chế biến từ thịt lợn tăng: giá thịt quay, giò chả tăng 1,41%; giá thịt hộp, chế biến khác tăng 0,4%;

- Giá thịt gia cầm tươi sống tăng 0,32% chủ yếu là giá thịt gà tăng 0,48% do nhu cầu cúng, lễ vào dịp tháng 7 âm lịch tăng; Giá trứng gia cầm các loại tăng 1,39% do nhu cầu chế biến trứng muối cho mùa Trung thu sắp tới;

- Giá thủy sản tươi sống tăng 0,47%; giá rau tươi tăng 2,87% do ảnh hưởng mưa bão.

(2). Bên cạnh các mặt hàng tăng giá, nhóm thực phẩm cũng có các mặt hàng giảm giá như:

- Giá các loại hạt và đậu giảm 0,24% do vào mùa thu hoạch;

- Giá các loại quả tươi, chế biến giảm 0,37% do mùa hè là thời điểm chính vụ thu hoạch của nhiều loại trái cây như: nhãn, mận, xoài, chôm chôm, bơ, dưa hấu;

- Giá đường giảm 0,63% do nguồn cung dồi dào.

1.3. Ăn uống ngoài gia đình (+0,63%)

Giá thực phẩm và giá gas tăng nên giá cơm suất bình dân tăng 0,46%, giá nước uống ngoài gia đình tăng 1,69%.

2. Đồ uống và thuốc lá (+0,11%)

Chỉ số giá nhóm này tăng ở các nhóm: bia hơi tăng 1,62% do nhu cầu tăng trong mùa hè; các mặt hàng rượu ngoại tăng 0,07% và thuốc lá tăng 0,07% do tỷ giá VND/USD tăng.

3. May mặc, mũ nón và giầy dép (+0,1%)

Chuẩn bị bước vào năm học mới 2018 - 2019 nên nhu cầu mua sắm quần áo, giầy dép, mũ nón tăng cao: quần áo may sẵn tăng 0,03%, mũ nón tăng 0,18%, giầy dép tăng 0,23% và dịch vụ may mặc tăng 0,39%. Bên cạnh đó một số mặt hàng khác cũng tăng giá như: ô, mũ nón, áo mưa do ảnh hưởng của thời tiết nên nhu cầu cao.

4. Nhà ở và vật liệu xây dựng (+0,44%)

Chỉ số giá nhóm này tăng chủ yếu ở các mặt hàng sau:

- Chỉ số giá nhóm vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 0,42%, chủ yếu tăng ở mặt hàng sắt thép do giá phôi thép tăng cao;

- Giá điện sinh hoạt tăng 0,22%, giá nước sinh hoạt tăng 0,05% do nhu cầu sử dụng điện, nước vào dịp hè tăng;

- Từ ngày 1/8/2018 giá gas trong nước điều chỉnh tăng 11.000đ/bình 12kg tăng 2,8% so với tháng 7/2018 do giá gas thế giới bình quân tháng 8/2018 công bố ở mức 587,5 USD/tấn, tăng 25 USD/tấn so với tháng trước;

- Giá dầu hỏa điều chỉnh tăng 200 đồng/lít ngày 7/8/2018, giảm 110 đồng/lít ngày 22/8/2018, bình quân tháng 8/2018 giá dầu hỏa tăng 0,69% so với tháng trước;

- Giá nhà ở thuê tăng 0,5% do nhu cầu thuê nhà vào dịp đầu năm học mới tăng.

5. Thiết bị và đồ dùng gia đình (+0,1%)

Vào mùa mưa, các loại côn trùng và muỗi vằn phát sinh nhiều, dẫn đến nhu cầu tiêu dùng của người dân đối với những mặt hàng đồ dùng gia đình tăng, dẫn tới giá tăng nhẹ. Cụ thể: thuốc diệt côn trùng tăng 0,31%, các sản phẩm về xà phòng, hóa chất tẩy rửa tăng 0,15%. Giá dịch vụ sửa chữa các thiết bị trong gia đình tăng 0,24%.

6. Thuốc và dịch vụ y tế (+0,02%)

Giá thuốc y tế và dịch vụ y tế khá ổn định do giá nguyên liệu sản xuất thuốc ổn định và tăng cường công tác kiểm soát chất lượng và kê khai giá.

7. Giao thông (+0,13%)

Chỉ số giá nhóm giao thông tăng 0,13% so với tháng trước, tăng chủ yếu ở những mặt hàng sau:

- Giá xăng dầu được điều chỉnh 2 đợt vào ngày 7/8/2018 và ngày 22/8/2018, bình quân tháng 8/2018 giá xăng dầu tăng 0,2% so với tháng trước, trong đó: giá dầu diezel tăng 440 đồng/lít; giá xăng E5 không thay đổi; giá xăng A95 giảm 50 đồng/lít;

- Giá ô tô tăng 0,33%, phụ tùng ô tô tăng 0,08% do tỷ giá VND/USD tăng;

Riêng giá vé tàu hỏa giảm 3,31% do Tổng công ty Đường sắt Việt Nam áp dụng chương trình giảm giá vé khi sắp qua mùa cao điểm của du lịch hè.

8. Giáo dục (+0,46%)

Chỉ số giá nhóm giáo dục tăng chủ yếu ở nhóm dịch vụ giáo dục do cả nước có 14 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tăng học phí theo lộ trình của Nghị định số 86/2015/NĐ-CP ngày 02/10/2015 của Chính phủ. Bên cạnh đó, chuẩn bị vào năm học mới nên nhu cầu mua sắm sách vở và các dụng cụ học tập tăng: giá sách giáo khoa tăng 0,43%, giá vở giấy viết tăng 0,64%, giá bút viết các loại tăng 0,19%.

9. Hàng hóa và dịch vụ khác (+0,13% )

Chỉ số giá nhóm này tăng chủ yếu ở các nhóm hàng dịch vụ phục vụ cá nhân tăng 0,32%, các vật dụng thờ cúng tăng 0,46%, dịch vụ về hiếu tăng 0,18%.

10. Chỉ số giá vàng (-1,41%)

Giá vàng trong nước biến động theo giá vàng thế giới, giá vàng thế giới giảm do đồng USD tăng giá khiến vàng trở nên kém hấp dẫn đối với giới đầu tư. Bình quân giá vàng thế giới đến ngày 24/8/2018 giảm 2,2% so với tháng 7/2018; bình quân tháng 8/2018 giá vàng trong nước giảm 1,41% so với tháng trước, giá vàng dao động quanh mức 3,670 triệu đồng/chỉ vàng SJC.

11. Chỉ số giá đô la Mỹ (+1,12%)

Tỷ giá giữa VND và USD tháng 8/2018 biến động khá mạnh do: đồng đô la Mỹ mạnh hơn các đồng tiền khác và đang được coi là tài sản an toàn trong bối cảnh thị trường tài chính toàn cầu có nhiều biến động trước chính sách bảo hộ thương mại của Mỹ; đồng Nhân dân tệ giảm mạnh xuống mức thấp nhất do ảnh hưởng căng thẳng thương mại Mỹ - Trung; Bên cạnh đó khả năng Cục dự trữ Liên bang Mỹ tiếp tục nâng lãi suất trong tháng 9/2018. Trong nước tỷ giá của các ngân hàng thương mại và tại thị trường tự do biến động theo xu hướng tăng, tuy nhiên với sự điều hành linh hoạt của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cùng với lượng dự trữ ngoại tệ khá dồi dào nên tỷ giá VND/USD vẫn dao động trong biên độ 3%. Giá bình quân ở thị trường tự do tháng 8/2018 ở mức 23.330 VND/USD tăng 1,12% so với tháng trước.

II. LẠM PHÁT CƠ BẢN

       Lạm phát cơ bản (CPI sau khi loại trừ lương thực, thực phẩm tươi sống; năng lượng và mặt hàng do Nhà nước quản lý bao gồm dịch vụ y tế và dịch vụ giáo dục) tháng 8 năm 2018 tăng 0,22% so với tháng trước, tăng 1,54% so với cùng kỳ; tám tháng đầu năm 2018 so với cùng kỳ tăng 1,38%.

        Trong tháng 8 và tám tháng đầu năm 2018, lạm phát chung có mức tăng cao hơn lạm phát cơ bản. Điều này phản ánh biến động giá do yếu tố thị trường có mức tăng cao, đó là giá thực phẩm tươi sống, giá xăng dầu. Lạm phát cơ bản tám tháng đầu năm 2018 so với cùng kỳ ở mức 1,38% phản ánh chính sách tiền tệ vẫn đang điều hành ổn định./.

CTK Bình Thuận




TIN TỨC CÙNG LOẠI KHÁC:













 
 
 
 
 
 
Trang: 
/